Nương Tựa Hải Đảo Tự Thân

Một hôm có một sư cô trẻ lên than thở với Thầy: “Bạch Thầy, tại sao ngồi nói chuyện với sư chị mà con cảm thấy không có an ninh? Trước đây con không thấy như vậy, con đã thấy sư chị rất dễ thương, có thể tin cậy được, có thể hướng dẫn cho con được. Nhưng có một lúc, con thấy sư chị không còn là sư chị nữa, và ngồi nói chuyện với sư chị con cảm thấy không còn an ninh nữa.!” Đến than thở với Thầy như vậy là đúng vì có tuệ giác, Thầy có thể soi sáng cho mình. Thật ra hồi còn nhỏ sư cô ấy đã sống trong một hoàn cảnh có nhiều sợ hãi, không có an ninh.Người lớn thường thay đổi bất ngờ, và đôi khi giông bão của gia đình tới một cách rất đột ngột, không biết làm thế nào mà đoán trước được. Có những trẻ em khác sống trong những hoàn cảnh tệ hại hơn nhiều, bị người lớn lạm dụng, bị người lớn áp bức, vì vậy cho nên khi nhìn chung quanh, chúng có cảm tưởng không có an ninh, thấy người nào cũng có cảm giác người đó sắp lợi dụng mình, sắp vi phạm quyền làm người của mình, sống như một con chim đã từng bị trúng tên, luôn luôn sợ hãi, thấy cái gì cũng là mối đe dọa cho chính mình.

Khi không có an ninh, ta hay tự tìm cách tự vệ trước. Mình dựng lên một bức thành để che đỡ cho mình bốn phía. Khi dựng lên bức thành như vậy, ta tạo ra sự ngắn cách giữa ta và người khác, đồng thời làm cho người khác khổ đau. Ta nói một câu không phải để làm khổ người kia, mà nói để tự vệ, và trong khi nói ta tạo ra những bức tường để bao quanh mình thì mình tự biệt lập, và tạo những khổ đau cho những người chung quanh. Sư cô trẻ này không đến nỗi như vậy. Cái khổ đau của sư cô nhỏ bé hơn nhiều.
Hỏi thăm và tìm ra đâu là đầu đuôi câu chuyện, Thầy dạy: Sư chị cũng như mình, cũng như bất cứ người nào, đã có những giai đoạn khó khăn trong đời sống. Khi gặp một trường hợp khó khăn, khi bị người này trách móc, người kia la rầy, sư chị cũng có phản ứng dựng lên một bức thành để bao bạo lấy sư chị. Đó là khuynh hướng của tất cả chúng ta, khi có cảm giác sắp bị tấn công, chúng ta đứng về phía tự vệ. Người kia chưa nói, chưa làm gì hết, ta đã tự vệ rồi. Ví dụ Thầy mời lên ăn sáng để có dịp ngồi chơi với Thầy thôi, nhưng mà ta sợ: ” Chết rồi, chết rồi, lên đó chắc thế nào cũng bị cạo gió, không biết đường nào xoay sở?” Đôi khi Thầy nhớ đệ tử, muốn ta lên ăn sáng với Thầy cho vui thôi, nhưng ta lại sợ vì ta không có cảm giác an ninh. Đối với bạn cùng tu cũng vậy, mới nghe “Chiều nay chị muốn gặp em để bàn chuyện này một chút”, ta đã sợ run, nghĩ rằng chắc là có chuyện gì đây. Cái khuynh hướng muốn tự vệ phát sinh làm ta đau khổ, và cũng làm người kia khổ nhưng biết làm sao? Trong quá khứ ta đã từng đau khổ, nên bây giờ ta có khuynh hướng xây lên những bức tường thành tự vệ. Tuy biết rất rõ những hành động như vậy là tự làm khổ ta và làm khổ những người chung quanh, nhưng cái đó đã trở thành một tập khí, có cái thói quen đó, để khi nào cảm thấy không được an ninh, khi nào ta bắt đầu làm công việc tự vệ, thì ta phải thở phải mỉm cười để thấy rằng ta đang ” xây thành lũy” nữa đây!

Thầy đã nói với sư cô trẻ ấy: “Chị của con chắc là đang khổ, có thể chị của con trong những ngày vừa qua đã bị người này lên án, người kia trách móc. Chị khổ cho nên ngồi nói chuyện với con mà chị đang đứng vào thế tự vệ. Tại vì có thể chị con sợ con trách chị, lên án chị, cho nên chị đưa cáo giáp sắt ra trước. Con thử nhìn lại coi có phải như vậy không? Mấy tháng trước đây đâu có chuyện đó, nhưng trong những ngày vừa qua, có phải là chị của con bị người này nói, bị người kia nói, chị con đau khổ và chị con có phản ứng tự vệ, con có thấy điều đó không?” Sư cô trẻ đó nói: ” Bạch Thầy có, con có thấy như vậy” . “Thấy như vậy con có thương chị được không?”, ” Bạch Thầy con thương được”. “Thấy được thì thương được, hiểu được thì thương được, thành ra ngồi với chị thì con phải nói rằng: ” Chị ơi em sẽ không trách móc gì chị đâu, chị cứ ngồi thoải mái đi, em chỉ muốn ngồi nói chuyện chơi với chị mà thôi”. Con nói một câu đó thì tự nhiên bao nhiêu áo giáp của chị sẽ rơi xuống hết, và như vậy mình giúp chị mình, và mình giúp chính mình”. Thầy còn nhắc cho sư cô trẻ đó phương pháp Quay về nương tựa. ” Khi con có cảm tưởng không an ninh thì đừng tìm chỗ nương tựa ngoài con, Bụt đã dạy rằng chỗ an trú, chỗ nương vững chãi nhất là Tam Bảo ở trong tự thân”.
Quay về nương tựa,
hải đảo tự thân,
Chánh niệm là Bụt,
Soi sáng xa gần,
Hơi thở là Pháp,
Bảo hộ thân, tâm
Năm uẩn là Tăng
Phối hợp tinh cần.
Khi nương tựa vào cái thành trì kiên cố của Bụt, của Pháp của Tăng và khi ta đã vững chãi rồi thì ta có thể giúp được các sư anh, sư chị, và sư em của ta. Cố nhiên vì ta là học trò, ta có thể nương tựa vào Thầy của ta. Nhưng Thầy của ta cũng có thể có lúc cao lúc thấp. Cũng như sư anh hay sư chị của mình, họ cũng có những lúc cao lúc thấp. Không ai cấm ta nương tựa vào Thầy của ta, vào sư anh sư chị và vào tăng thân ta. Nhưng tất cả những người đó đều có thể có lúc cao lúc thấp. Khi thấy thấp ta đừng hoảng sợ và có cảm giác mất chỗ nương tựa! Ngược lại khi thấy như vậy ta phải thương thêm và tìm cách đem lại sự an ủi, rồi làm cho tình trạng của người đó và hoàn cảnh đó trở nên vững chãi hơn.
Sư cô đã nghe lời Thầy, đã thực tập quay về nương tựa nơi Bụt, nơi Pháp, nơi Tăng và chỉ trong một ngày là có kết quả. Điều hay nhất là Thầy không phải dạy đến lần thứ 2, chỉ dạy một lần thôi là cô thực tập được, đã vượt thắng được đã đem sự hiểu biết và lòng thương yêu của mình mà đối đãi với người chị của mình. Tuy là em những sư cô đã giúp được chị. Chuyện em giúp được chị, em giúp ảnh là chuyện xảy ra rất thường. Cũng như chuyện học trò giúp Thầy đã xảy ra rất nhiều lần.Khi thực tập như vậy ta bắt đầu tiếp xúc được tính vô ngã nó nằm ở dưới nền tảng của mọi sự vật đang có mặt. Vì chị mình là ai? Anh mình là ai? Chị mình là chính mình! Anh mình là chính mình! Hạnh phúc của chị mình cũng chính là hạnh phúc của mình, hạnh phúc của mình cũng chính là hạnh phúc của anh mình. Nỗi đau khổ của em mình cũng chinh là nỗi đau khô của mình. Trong cuộc sống hàng ngày ta thấy điều đó rất rõ. Khi con ngựa đau cả tàu đều không ăn cỏ. Nếu có việc gì xảy đến cho một người trong tăng thân, thì tất cả mọi người đều đau khổ, chúng ta đã có kinh nghiệm về chuyện đó.

Có một năm đang đi dạy ở Bắc Mỹ, tôi nhận môn tin rất dữ. Đó là tin tai nạn xe hơi của anh Hoàng và chị Tịnh Thủy, và chị Tịnh Thủy bị thương trầm trọng. Lúc đó tôi đang ở xa, không thể tiếp xúc được với nhà thương, Tôi không biết chị Tịnh Thủy còn sống hay không? Vì vậy cho nên đi một đoạn đường dài từ miền Nam cali lên đến Bắc cali mà trong lòng cứ ôm ấp hình bóng của người học trò! Không biết cô học trò đó hiện bây giờ đang còn sống hay đã chết rồi? Từ lúc đó trở đi có nhiều tin tức khác nhau. Đến khi về lại Pháp, tôi biết rằng Tịnh Thủy không đến nỗi nào, cô đã vượt thoát nguy tai và đã bình phục sau một thời gian điều trị. Lúc về, tôi nhìn Tịnh Thủy bằng đôi mắt khác. Tôi cảm tạ đất trời, cảm tạ số mạng, cảm tạ tất cả. Trái tim tôi tràn đầy sự biết ơn. Biết ơn ai, biết ơn cái gì thì không rõ lắm, chỉ có một sự thực rất rõ là mình biết ơn đối với cái sự kiện là Tịnh Thủy còn sống. Từ đó đến nay mỗi khi ngồi gần Tịnh Thủy, tôi thấy rất rõ sự kiện Tịnh Thủy còn sống là một sự kiện mầu nhiệm. Tịnh Thủy hay bất cứ người nào trong tăng thân chúng ta cũng vậy, nếu lâm vào tình trạng nguy hiểm đó, tai nạn đó thì chúng ta cũng đau khổ như nhau. Khi ngồi bên cạnh người sư anh, sư chị, sư em ta phải thấy sự kiện người đó còn sống và đang ngồi bên ta là một ân đức, một phép lạ. Chỉ cần nhớ tới điều ấy thôi thì bao nhiêu nỗi buồn phiền và giận hờn của ta đối với người đó sẽ tan biến hết. Đó là cách tiếp xúc với chiều sâu của sự thật. Nếu không thì chúng ta chỉ thấy cái cạn cợt trên bề mặt của sự thật mà thôi.

Sư Ông Làng Mai

(Trích trong Hạnh Phúc Mộng và Thực )